Thông tin tuyên truyền

Từ ngày 01/7/2016, truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Ngày đăng 28/06/2016 | 10:27  | View count: 1939

Từ ngày 01/7/2016, Bộ Luật Hình sự năm 2015 truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Bắt đầu từ ngày 01/7/2016 Bộ luật Hình sự 2015 chính thức có hiệu lực. Đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm và thúc đấy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự ở nước ta so với BLHS 1985, BLHS 1999 trước đây, đó là BLHS 2015 đã bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Theo Điều 75 BLDS 2015 quy định: "Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác...". Quy định về pháp nhân thương mại được thể hiện tập trung tại chương XI của BLHS 2015, gồm 16 điều (từ Điều 74-89) và một số điều khoản khác của Bộ luật  (các điều 2, 3, 8, 33 và 46). Đây là chế định đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự ở nước ta, làm thay đổi nhận thức truyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Nếu như trước đây trong BLHS Việt Nam chỉ ghi nhận tội phạm là cá nhân, một con người cụ thể thì đến BLHS 2015 đã ghi nhận thêm một chủ thể của tội phạm đó là pháp nhân thương mại.

Theo đó, BLHS 2015 xác định:

Về chủ thể, Điều 2 BLHS 2015 quy định: "Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự". Như vậy, trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với pháp nhân thương mại.

Về loại tội, Điều 76 của BLHS 2015 quy định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 31 tội danh được liệt kê cụ thể tại Điều 76 của BLHS. Công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán; Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thách và bảo vệ rừng); Điều 234 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã); Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản); Điều 243 (tội hủy hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại).

Các tội danh này đều thuộc nhóm tội phạm về kinh tế và nhóm tội phạm về môi trường. Đồng thời, Điều 75 BLHS cũng quy định rõ 04 điều kiện để một pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, bao gồm: hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt, BLHS 2015 quy định chế tài áp dụng đối với pháp nhân phạm tội tại Điều 33 và Điều 46 bao gồm 03 hình phạt chính (phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn) và 03 hình phạt bổ sung (cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính) và 04 biện pháp tư pháp (tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra).

Như vậy, việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào BLHS xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn và nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra.

Hoàng Thị Ngọc Bích, TAND huyện Mỹ Đức